HẠ KHÔ THẢO

Hạ khô thảo tên gọi khác tịch cú, có vị đắng, tính hàn Chúng thường dùng để làm mát gan, lợi tiểu, sát trùng, tiêu độc, có tác giả cho là nó thanh hỏa minh mục, tán kết tiêu thũng.

HẠ KHÔ THẢO 1

Hạ khô thảo giúp mát gan, lợi tiểu (Ảnh minh họa)

Tên gọi khác: Tịch cú, Nãi đông, Yến diện, Thiết sắc thảo…
Họ: Hoa môi – Lamiaceae.
Mô tả: Cây thảo, sống nhiều năm, cao 20-40 cm, có thể tới 70cm, thân vuông, màu tím đỏ, có lông. Lá mọc đối, hình trứng hay hình ngọn giáo, dài 1,5-5cm, rộng 1-2,5cm mép hoặc hơi khía răng. Cụm hoa bông gồm nhiều xim co ở đầu cành, dài 2-6cm; lá bắc có màu tím đỏ ở mép; hoa nhỏ, màu lam đậm hay tím nhạt, có cuống ngắn; đài hình ống có 2 môi; tràng đều chia 2 môi, môi trên dựng đứng, vòm lên như cái mũ, môi dưới 3 thuỳ, thuỳ giữa lớn hơn, có răng; nhị 4, thò ra ngoài tràng hoa. Quả bế nhỏ, cứng, có 4 ô.
Mùa hoa tháng 4-6, quả tháng 7-8.
Địa lý : Cây mọc hoang ở Lào Cai, Hà Giang, Tam Đảo. Cũng còn được trồng ở Tnmg du.
Thu hái, Sơ chế : Trước đây phải nhập của Trung Quốc, hiện nay đã phát hiện và thu hái ở Sa Pa, Tam Đảo, Hà Tuyên vào tháng 4 – 6. Khi quả đã chín thì hái cành mang hoa và quả phơi hay sấy khô. Có khi người ta còn dùng cả phần ở trên mặt đất, thu về, phơi hay sấy khô dùng.
Phần dùng làm thuốc: Hoa, quả (Flos Brunellae cum Fructu).
Mô tả dược liệu: Cành mang lá và hoa khô. Cành vuông, màu nâu nhạt, có nhiều rãnh dọc. Lá mọc đối, nhăn nheo, hình bầu dục hay trái xoan. Toàn cây có những lông ngắn. Vị đắng, hơi the. Thông thường lúc dùng làm thuốc chỉ lấy toàn hoa mà không lấy cuống và cành. Hoa tự mọc ở đầu cành, màu nâu tía, khô, thơm, không sâu, mốc, mục nát là tốt. Nhưng theo quy cách mới hiện nay thì lại dùng cành có hoa, lá từ đầu hoa trở xuống dài khôâng quá 15cm, bỏ  gốc rễ, thứ bị mất bông hoa thì không dùng.
Thành phần hóa học: Hạ khô thảo chứa alcaloid tan trong nước, 3,5% muối vô cơ, tinh dầu. Trong các muối vô cơ có chủ yếu là kali chlorua. Tinh dầu chứa d-camphor (khoảng 50%) a- và D-fenchon, vết của alcol fenchylic. Chất đắng là prunellin (trong đó phần không đường là acid ursolic; còn có denphinidin cyanidin. Ở Pháp, người ta đã xác định trong cây có nhựa chất đắng, tanin, tinh dầu, chất béo, lipase, một glucosid tan trong nước (0,70g/kg cây khô) và một saponosid acid (1,10g).
Tính vị, tác dụng: Hạ khô thảo có vị đắng, tính hàn; có tác dụng lợi tiểu mát gan, sát trùng, tiêu độc, có tác giả cho là nó thanh hỏa minh mục, tán kết tiêu thũng. Ở Pháp, người ta cho nó có các tính chất làm se, tiêu sưng, làm giảm đường huyết, làm sạch.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng trị đau mắt hay chảy nước mắt, tràng nhạc (lao hạch), bướu cổ, sưng vú, viêm tử cung và âm hộ, gan mật nhiệt, huyết áp cao; viêm thần kinh da, lở ngứa mụn nhọt, hắc lào, vẩy nến, tiểu tiện ít không thông. Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc; dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.
Ở Trung Quốc, dân gian dùng trị đái buốt, lao hạch, đau mắt phong sưng đỏ; cũng trị được cao huyết áp, giữ mức hạ áp được lâu, giảm bớt bệnh buồn rầu chủ quan.
Ở Pháp, người ta dùng uống trong trị đái đường, dùng ngoài chữa mụn nhọt, đau thắt, viêm họng, viêm lưỡi, viêm miệng.
Đơn thuốc theo kinh nghiệm dân gian:
  • Chữa tràng nhạc, lở loét: Hạ khô thảo 200g sắc đặc, uống trước bữa ăn 2 giờ. Hoặc dùng Hạ khô thảo 8g, Cam thảo 2g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.
  • Thông tiểu tiện: Hạ khô thảo 8g, Hương phụ 2g, Cam thảo 1g, nước 300ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.
  • Chữa cao huyết áp: Hạ khô thảo rửa sạch, phơi khô, tán nhỏ 40g, sắc lấy nước, chia 2 lần uống trong ngày, sau hai bữa cơm. Uống liên tục 10 ngày, nghỉ 7 ngày, rồi uống tiếp tục như thế từ 2-4 đợt tuỳ bệnh nặng nhẹ. Hoặc dùng Hạ khô thảo, Bồ công anh, Hạt muồng ngủ sao, mỗi vị 20g; Hoa cúc, lá Mã đề, mỗi vị 12g, sắc uống.
  • Bình luận mặc định
  • Bình luận Facebook

Ý kiến của bạn

Ý kiến của bạn