MẠCH NHA

Mạch nha là sản phẩm từ mầm ngũ cốc (lúa mì, lúa mạch, đại mạch…) được cho nảy mầm trong điều kiện kiểm soát và được sấy khô khi đã đạt được độ mầm nhất định. Mạch nha được dùng làm thuốc và ghi đầu tiên trong sách ” Dược tính bản thảo” .

MẠCH NHA 1

Mạch nha là sản phẩm từ mầm ngũ cốc (Ảnh minh họa)

Tên gọi khác: Lúa mạch, Đại mạch, Mâu mạch, Nhu mạch, Nếp mạch
Họ: Lúa
Mô tả:
Mạch nha hình thoi dài 8 – 12 mm, đường kính 3 – 4 mm, mặt ngoài màu vàng nhạt, trên lưng có mày bao quanh với 5 đường gân và râu dài đã gẫy rụng. Phía bụng được bao trong mày hoa, bóc bỏ vỏ ngoài thấy mặt bụng có một rãnh dọc, phần dưới mọc ra mầm non và rễ con, mầm non dài dạng mũi mác, dài 0,5 cm với vài sợi rễ nhỏ cong queo. Chất cứng, mặt bẻ gẫy màu trắng có tinh bột. Không mùi, vị hơi ngọt.
Bộ phận dùng: Hột lúa mạch mì đã có mầm. Hột khô chắc cứng, mọc mầm đều, còn đủ mầm, không ẩm mốc, không nát là tốt.
Xưa nay ta vẫn dùng hột Đại mạch nghĩa là Mạch nha không mầm, phơi khô. Như thế là không đủ. Nên dùng Cốc nha tức là hạt thóc tẻ (Oriza sativa L), thóc chiêm ngâm cho nẩy mầm rồi phơi khô.
Thành phần hoá học: mạch nha và cốc nha có thành phần hóa Học giống nhau, có tinh bột, chất béo, protid, men chuyển hoá đường, matose, saccharose glucose, sinh tố B, lexitin, các men amylase, mantase.
Tính vị, quy kinh: Vị ngọt, tính bình, quy vào kinh Tỳ và Vị
Tác dụng: tiêu hoá, hạ khí ức, tiêu tích.
Chủ trị:

  • Khó tiêu biểu hiện như chán ăn và chướng bụng và thượng vị: Dùng Mạch nha hợp với Sơn tra, Thần khúc và Kê nội kim.
  • Tắc sữa hoặc tức vú kèm đau: Dịch sắc của Mạch nha nửa sống và nửa sao, dùng 2 lần/ngày, 30-60g/lần.
  • Can khí uất và Vị khí trệ biểu hiện như phình và đầy ngực và vùng xương sườn, đau thượng vị: Dùng Mạch nha với Sài hồ, Chỉ thực và Xuyên luyện tử.

Liều dùng: Ngày dùng 12 – 1 6g.
Kiêng ky: người có thai hoặc đang cho con bú thì không nên dùng (mất sữa)

  • Bình luận mặc định
  • Bình luận Facebook

Ý kiến của bạn

Ý kiến của bạn