NHŨ HƯƠNG

Nhũ hương hay có tên gọi khác là huân lục lương, thiên trạch hương…thuộc họ đào có vị cay, đắng, tính ôn, được sử dụng hiệu quả cho các bệnh lý viêm mãn tính, đặt biệt là viêm khớp, thoái hoá khớp, thấp khớp …

NHŨ HƯƠNG 1

Hình ảnh: Lá và hoa nhũ hương

Tổng quan về cây nhũ hương

Tên gọi khác: Huân lục hương, Nhũ đầu hương, Thiên trạch hương…

Tên khoa học:  Pistacia lentiscus L.

Họ khoa học: Đào Lộn Hột

Mô Tả: Nhũ hương là loại cây vừa, nhỏ, cao 4-5m, cao nhất khoảng 6m. cây khô thô, khoẻ, vỏ cây trơn sáng, mầu vàng nâu nhạt. Vỏ cây nơi cành to có dạng như tấm vẩy dần dần bong ra. Lá mọc xen kẽ, dầy hợc mọc thưa ở vùng trên. Lá kép dạng lông cánh lẻ. Dài 15-25cm, cuống lá có lông trắng, lá nhỏ 7-10 lá đôi, mọc đối, không cuống, vùng đáy lá rất nhỏ, hướng trên to dần. Lá nhỏ dài, hình trứng, dài 3,5cm, lá ở đỉnh dài 7,5cm, rộng 1,5cm, đầu lá tù, vùng đáy lá hình tròn, gần như hình tim, mé cạnh lá có răng cưa, tròn, không theo thứ tự nào hoặc gần như không có răng cưa, hai mặt lá đều phủ lông trắng hoặc mặt trên lá không có lông. Hoa nhỏ, bầy thành cụm hoa có tổng trạng thưa, nụ hình trứng, cánh hoa 5 cánh, mầu vàng nhạt, hình trứng, dài gấp 2 lần đài hoa, mé trước nhọn. Đài hoa dạng chén, mé trước xẻ 5, cánh xẻ dạng hình tam giác, hình trứng. Nhuỵ đực 10, mọc ở bên ngoài đài hoa. Vòi nhuỵ ngắn, tử phòng ở bên trên, có 3-4 ngăn, mỗi ngăn có 2 phôi châu mọc rũ, đầu trụ dạng đầu, hơi xẻ 3, hạch quả hình trứng ngược, dài khoảng 1 phân, có 3 góc, đầu tù, vỏ quả chất thịt, mỗi ngăn có 1 hạt.

Bộ phận dùng: Nhựa cây Nhũ hương. Ngoài mặt sắc trắng mờ, trong sáng bóng, cắn vào thì dính răng, mùi thơm, đốt lên bay khói ra thơm mát, tàn tro sắc đen là đúng.

Thành phần hóa học:

  • Nhựa cây 60-70%, gôm 27-35%, tinh dầu 3-8%. Thành phần chủ yếu của nhựa cây là Free Anpha, Bê ta- Boswellic acid 33%, Olibanoresene 33% (Wallis T E. Textbook of Pharmacognocy 2Ed 1951 : 467).
  • O-acetyl-Bêta-Boswellic acid)  (Hairfeild E M và cộng sự, J Chromatogr Sci. 1989, 27 (3) : 127).
  • Dihydroroburic acid Ernesto Fattorusso và cộng sự, Phytochemistry 1983, 22 (12) : 2868).
  • Epilupeol acetate, Tirucallo Xaasan Cabdi Farah và cộng sự, C A 1985, 102 : 182459m).

Tác dụng dược lý: Giảm đau

Tính vị , quy kinh: Vị cay, đắng, tính ôn, quy vào kinh tâm, can, tỳ

Tác dụng, Chủ trị :

  • Liệu phong thuỷ độc thũng, khứ ác khí. Trị phong ẩn chẩn, ngứa, độc (Biệt Lục).
  • Khứ ác khí, ác sang (Tân Tu Bản Thảo).
  • Trị điếc, trúng phong cấm khẩu, bệnh về khí huyết của phụ nữ , năng phát tửu, lý phong lãnh, trị các loại nhọt (Bản Thảo Thập Di).
  • Làm yên đau ở các kinh (Trân Châu Nang).
  • Bổ Can, khứ phong bổ Tâm ninh thần, sinh cơ, chỉ thống (Y Lâm Toản Yếu).
  • Hoạt huyết, chỉ thống. Trị bế kinh, thống kinh, đau vùng thượng vị, đau phong tê thấp. té ngã chấn thương, trường ung. Tiêu phù, sinh cơ, trị các chứng nhọt lở lâu ngày khó lành miệng  (Trung Dược Học).
  • Điều khí, chỉ thống, hoạt huyết, thư cân. Trị các chứng đau ở  vùng ngực, bụng, ung nhọt sưng đau, bị ngã, bị đánh, tổn thương, khí huyết ngưng tụ gây đau  (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Đơn thuốc theo kinh nghiệm dân gian :

  • Trị nhức đầu, đau mắt, huyết bốc lên, gân co cứng, cơ thể đau nhức: Nhũ hương, Một dược, Vãn tàm sa, Thảo ô, Ngũ linh chi, Mộc miết tử. Tán bột, trộn với rượu  và bột hồ làm viên, to như hạt ngô, mỗi lần uống 7 viên, với nước sắc Bạc hà (Nhũ Hương Hoàn – Chứng Trị Chuẩn Thằng)
  • Trị kinh bế, đau kinh thuốc phối hợp với Đương qui, Đào nhân, Hồng hoa (Trung Dược Học).
  • Trị đau vùng thượng vị: phối hợp cùng thuốc hành khí như Xuyên luyện tử, Mộc hương, Trần bì (Trung Dược Học).
  • Trị phong thấp đau nhức: Khương hoạt, Tần giao, Đương qui, Hải phong đằng  (Quyên Tý Thang – Y Học Tâm Ngộ)
  • Trị chấn thương ngoại khoa gây sưng đau:  Nhũ hương, Một dược, Xuyên khung đều 5g, Bạch chỉ, Xích thược, Đơn bì, Sinh địa đều 10g, Cam thảo 3g. Tán bột, mỗi lần uống 3-4g, ngày 2 lần với rượu hoặc nước tiểu trẻ em chưng lên (Nhũ Hương Định Thống Tán  – Lương Phương Tập Dịch).
  • Trị chấn thương ngoại khoa gây sưng đau: Nhũ hương, Chu sa, Một dược đều 5g, Huyết kiệt, Hồng hoa đều 6g, Nhi trà 10g, Xạ hương 2g, Băng phiến 3g. Tán bột, mỗi lần uống 0 2g với rượu (Thất  Ly Tán – Lương Phương Tập Dịch).
  • Trị ung nhọt sưng đau : Nhũ hương, Một dược đều 5g, Thiên hoa phấn, Đại hoàng, Hoàng kỳ, Ngưu bàng tử, Mẫu lệ đều 10g, Kim ngân hoa 15g, Cam thảo 3g. Sắc uống (Nhũ Hương Tiêu Độc Tán – Ngoại Khoa Trích Lục).
  • Trị nhọt vỡ lâu ngày khó lành miệng: Nhũ hương, Một dược, tán bột, trộn với dầu (mè) đắp ngoài có tác dung tiêu thũng, sinh cơ tốt (Hải Phù Tán – Ngoại Khoa Trích Lục).
  • Trị viêm gan,  vùng gan đau : Nhũ hương, Một dược, Miết giáp, Ngũ linh chi, lượng bằng nhau, sắc lấy nước đặc, tẩm vào gạc, đắp lên vùng đau lúc còn ấm. Thẩm Tích Lâm dùng trị 32 ca, khỏi 21 ca, bớt đau rõ 6 ca, tiến bộ 3 ca (Giang Tô Trung y Tạp chí 1962, 8 : 39).
  • Trị vú có hạch (nhũ hạch):  Nhũ hương, Một dược, Hoàng bá, Đại hoàng, tán bột,  trôn đều cho Băng phiến cất vào lọ có mầu tối. Lúc dùng lấy lòng trắng trứng trộn thuốc cho vào gạc, đắp lên vùng đau (gạc dày 1mm), chườm nóng ngoài càng tốt, cứ 24 giờ thay thuốc cho đến khi tiêu hạch.

Liều dùng: 3-10g

Kiêng kỵ:

  • Thuốc cho vào thang làm nước thuốc đục, uống dễ gây nôn, vì vậy người đau dạ dày  nên dùng lưọng nhỏ hơn và không dùng lâu (Trung Dược Học).
  • Không dùng cho bệnh nhân có thai (Trung Dược Học).

Tham khảo:

  • Nhũ hương mùi thơm, nhập tâm kinh, hoạt huyết, định thống. Trị được chứng ung thư,  mụn nhọt lở loét. Là thuốc chủ yếu của chứng tâm phúc thống. Thuốc trị bênh sản khoa hay dùng nhờ tính hoạt huyết của thuốc (Bản Thảo Cương Mục).
  • Trị té ngã, chấn thương, đau sau khi sinh, tâm phúc đau, do thuốc có vị thơm, cay, tính tẩu tán, tán huyết, bài nùng, thông khí, hóa trệ (Bản Thảo Hội Ngôn).
  • Nhũ hương và Một dược cùng dùng có tác dụng tuyên thông tạng phủ, lưu thông kinh lạc, do đó có thể trị các chứng đau ở tâm, phúc, hiếp, các khớp chân tay. Thuốc chuyên trị phụ nữ hành kinh đau bụng, sau khi sinh bị đau do ứ huyết, rối loạn kinh nguyệt. Do có tác dụng thông khí, hoạt huyết, thuốc còn có tác dụng trị phong hàn thấp tý, toàn thân tê dại, chân tay liệt và ung nhọt sưng đau. Hoặc nhọt cứng không đau. Dùng ngoài trị nhọt lở, có tác dụng giải độc, tiêu phù, sinh cơ, chống đau. Tuy là thuốc khai thông, nhưng không làm tổn thương khí huyết, thuộc loại thuốc tốt (Y Học Trung Trung Tham Tây Lục).
  • Vị thuốc này còn có một tên nữa là Huân lục hương, màu trong suốt là tốt, màu tối mờ là kém. Người bị co gân, không duỗi ra được, trong thuốc xông, rửa, đắp, cho thêm Nhũ hương vào thì duỗi được, không kể uống trong và dùng ngoài, đêu có tác dụng chống đau (Đông Dược Học Thiết Yếu)
  • Bình luận mặc định
  • Bình luận Facebook

Ý kiến của bạn

Ý kiến của bạn